• NHÂN SÂM: VỊ THUỐC QUÝ CỦA ĐÔNG Y

    Tên nhân sâm do vị thuốc giống hình người. Tên Panax do chữ Hy Lạp pan là tất cả, acos là chữa được, có ý nói vị thuốc chữa được mọi bệnh, ginseng và schinseng là phiên âm chữ nhân sâm.

    Đông y coi nhân sâm là vị thuốc đứng đâu các vị thuốc bổ, theo thứ tự sâm, nhung, quế, phụ. Sâm nói ở đây là nhân sâm vì sâm có hình dạng giống người cho nên một số vị thuốc có hình giống người cũng được gọi là sâm, sâm là một vị thuốc bổ nên dần dần một số vị thuốc có tác dụng bổ cũng được gọi là sâm. Rồi để phân biệt vị nọ với vị kia người ta thêm tên địa phương vào như sâm Bố chính( sản xuất ở Bố Trạch), đảng sâm( vì sản xuất ở Thượng đảng) hoặc thêm tên màu sắc vào như huyền sâm( sâm có màu đen), đan sâm( sâm có màu đỏ)…. Tôi xin trình bày vị thuốc mang tên nhân sâm, còn có tên gọi là viên sâm, dã nhân sâm.

    Mặc dù nhân sâm hiện nay vẫn còn phải nhập nhưng công dụng quá phổ biến, nhiều người lầm với một số cây Việt Nam có, Liên Xô củ, Trung Quốc, Triều Tiên đã cung cấp giống và mầm để trồng thí nghiệm, cố gắng di thực cây nhân sâm.

    Nhân sâm( Radix ginseng hay Radix ginseng sylvestris) là rễ chế biến rồi phơi khô hay sấy khô của cây nhân sâm trồng hoặc mọc hoang. Có tác giả xác định hai loại nhân sâm như sau:

    . Nhân sâm mọc hoang: Panax ginseng C.A. mey. Forma sylvestre Chao et Shih

    . Nhân sâm trồng: Panax ginseng C.A. mey. Forma sativum Chao et Shih

     

     

    Chế biến sâm

    Trên thị trường có nhiều loại sâm do chế biến khác nhau, xin giới thiệu hai cách chế biến hồng sâm và bạch sâm của Triều Tiên.

    . Hồng sâm: Chọn những củ lớn nhất, nặng ít nhất 37g, rửa sạch đất từng củ một bằng bàn chải nhỏ, rửa ở dưới nước, để nguyên cả rể, kể cả rể nhỏ, rửa như vậy sẽ được củ sâm trắng ngà. Cho vào nồi hấp ở áp lực hơi nước cao 2 atmotphe từ 1h20 đến 1h30. Nhiệt độ 80 – 90 độ. Sau đó sấy khô ở nhiệt độ 60 – 70 độ C( 6 – 7 giờ) hoặc 50 – 60 độ C( 8 – 10 giờ), nên sấy khô hết sức mau. Sau khi sấy khô, dùng tay bứt các rể nhỏ để riêng gọi là tu sâm, củ sâm còn lại giống như hình người( nếu không giống thì chỉnh lại cho giống) phơi nắng từ 7 đến 15 ngày( tùy theo sâm lớn hay nhỏ) là được.

    . Bạch sâm: Những củ sâm không đủ tiêu chuẩn chế hồng sâm thì đem chế bạch sâm. Trước hết cắt bỏ rể nhỏ, dùng dao cạo sạch vỏ mỏng, sau đó phơi nắng cho hơi khô, đem vào chỉnh lại cho thành hình người rồi đem phơi nắng cho khô hẳn. Thời gian phơi cả trước và sau hết 7 – 15 ngày. Sau đó đóng gói như hồng sâm. Thường hồng sâm được đóng gói vào bao bì gỗ, bạch sâm đóng gói bao bì giấy.

    Gần đây, tại nhiều nước, nhân sâm được phát triển bằng nuôi cấy mô để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về nhân sâm.

     

     

    Tác dụng dược lý

    . Tác dụng trên hệ thần kinh: Từ xưa tại Trung Quốc người ta đã biết thí nghiệm tác dụng làm giảm mệt của nhân sâm. Sách Bản thảo cương mục( thế kỷ thứ XVI) có ghi cách sử dụng nhân sâm như sau: “ cho 2 người cùng chạy, một người có ngậm miếng sâm và một người không ngậm, sau khi chạy 3 đến 5 dặm, người không ngậm nhân sâm sẽ thở mạnh còn người có ngậm nhân sâm vẫn thở như thường”.

    . Tác dụng trên huyết áp và tim: Nhân sâm có 2 hướng tác dụng trên hệ thần kinh thực vật: liều nhỏ tác dụng như thần kinh gioa cảm, liều lớn tác dụng như thần kinh phế vị.

    . Tác dụng trên hô hấp: Dung dịch nhân sâm 20% tiêm vào tĩnh mạch mèo thấy nhân sâm hưng phấn hô hấp. Tuy nhiên ở trên mới chỉ thấy tác dụng khi tiêm còn chưa thấy tài liệu nghiên cứu tác dụng của việc uống nhân sâm đối với hô hấp.

    . Tác dụng đối với chuyển hóa cơ bản: Đối với bệnh đường huyết quá cao nhân tạo trên thỏ, đều thấy có tác dụng rõ rệt làm hạ mức đường huyết xuống. Dùng nhân sâm chung với insulin thì có thể giảm bớt lượng insulin, thời gian hạ đường huyết được kéo dài hơn và chữa được bệnh tiểu đường.

     

     

    Công dụng và liều dùng:

    Nhân sâm là vị thuốc cổ truyền trong Đông y. Các sách cổ thường ghi nhân sâm vị ngọt, hơi đắng, tính ôn( là có vị đắng, hơi ngọt), vào 2 kinh tỳ và phế, bổ 5 tạng( tâm, can, tỳ, phế, thận). Có tác dụng đại bổ nguyên khí, ích huyết sinh tân, định thần ích trí nghĩa là có tác dụng yên tinh thần, định hồn phách, làm khỏi sợ hãi, trừ tà khí, sáng mắt, uống lâu nhẹ mình, tăng tuổi thọ. Dùng chữa phế hư do suyễn, tỳ hư sinh tiết tả, vị hư sinh nôn mửa, bệnh lâu ngày khí hư, tiêu khát. Những người có bệnh có thực tà không dùng được.

    Cách dùng trong dân gian như sau: Sâm cắt mỏng, cho vào miệng ngậm và nhấm từng ít một, nuốt nước và cả xát. Hoặc cắt mỏng, bỏ vào ấm hay chén sứ, thêm một chút nước đậy nắp, nấu cách thủy, uống nước. sau đó lại thêm nước vào nấu ách thủy tiếp tục uống. Làm như vậy cho đến khi hết mùi vị mới thôi, ngày sử dụng 2 – 6g.

    Sau đó do các công trình nghiên cứu về nhân sâm đặc biệt của Liên Xô cũ, Trung Quốc, nhân sâm được Tây y công nhận và sử dụng như vị thuốc chính thức ngay trong y học, Có thể dùng dưới dạng thuốc sắc 5 hay 10% với liều 15 - 30ml một lần, ngày dùng 3 lần, dưới dạng cồn nhân sâm với liều 15 giọt một lần, ngày uống 3 lần.

    Vài đơn thuốc có nhân sâm trong Đông y

    . Độc sâm thang( đơn thuốc có vị nhân sâm) chữa cơ thể quá suy nhược sau khi mất máu nhiều, thần kinh suy nhược: Nhân sâm 40g, nước 400ml( 2 chén) sắc lại còn 200ml( 1 chén), cho uống từng chút một, không kể thời gian. Uống xong cần nằm yên.

    . Sâm phụ thang chữa những trường hợp mạch suy kiệt, mồ hôi ra nhiều, chân tay lạnh: Nhân sâm 40g( có thể 20g), chế phụ tử 20g( có thể 10g), sinh khương 3 miếng, táo đen 3 trái, 3 chén nước( 600ml) sắc còn 200ml( 1 chén) chia làm nhiều lần uống trong ngày.

    Nhân sâm được xem là thuốc giúp con người thích ứng với hoàn cảnh, giúp cơ thể thích ứng với những kích động, kích thích, với những biến động, stress. Sâm điều hòa tuyến nang thượng thận, tuyến giáp trạng và tuyến não thùy. Sâm làm gia tăng biến dưỡng, làm điều hòa huyết áp và lượng đường trong máu. Vì vậy, người ta hay đổ sâm vào miệng những người hấp hối sắp chết để làm tăng áp huyết và lượng đường cho bệnh nhân hồi tỉnh. Các người tuyệt thực uống sâm để chữa những triệu chứng thiếu đường trong máu cho đỡ bớt thấy đói, lao xao, xây xẩm…

     

     

    Nhân sâm đứng đầu trong các vị thuốc bổ nhưng vẫn là thuốc, nên không phải muốn dùng thế nào cũng được và không phải ai cũng dùng được bởi thể trạng, bệnh tình khác nhau. Việc dùng tùy tiện có thể biến bệnh nhẹ thành bệnh nặng, nặng thành nặng hơn. Các nghiên cứu đã cho thấy nếu người lớn tuổi uống khoảng 200ml rượu nhân sâm nồng độ 3% sẽ có biểu hiện trúng độc, bị mẫn đỏ toàn thân, ngứa, chóng mặt, đau đầu, thân nhiệt tăng, huyết áp hạ. Uống liên tục mỗi ngày 0,3g bột sâm củ có thể mất ngủ, trầm uất, giảm cân. Việc dùng nước sâm thay cho nước uống hay ăn nhân sâm như kẹo là rất nguy hiểm, nhất là với người cao tuổi, bị xơ cứng động mạch, huyết áp, bởi trong nhân sâm có chứa chất chống phân giải chất béo, sẽ làm tăng lượng mỡ.

    Riêng với trẻ em thể chất khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị mắc các bệnh lý thuộc hư chứng thì nhất thiết không dùng thuốc bổ nói chung và nhân sâm nói riêng. Bởi nếu tùy tiện dùng nhân sâm cho trẻ có thể làm kích thích quá trình phát dục khiến đứa trẻ phát dục sớm, nhất là bé trai ở độ tuổi từ 13 – 16 tuổi. Hơn nữa, nhân sâm còn khiến trẻ bị rối loạn đường tiêu hóa, thần kinh không bình thường, lâu dài dẫn đến mất ngủ và dể bị kích động.

    Mặc dù là thuốc bổ nhưng trong nhân sâm vẫn có độc tính và có những điều kiêng kỵ trong khi sử dụng, do vậy khi sử dụng cần phải thật cẩn trọng.

    Đông y cho rằng, những người có thể trạng âm hư hỏa vượng, âm hư nội nhiệt với các triệu chứng: người gầy, da khô, nóng, lòng bàn tay, bàn chân nóng, miệng khô khát nước, trong lòng phiền muộn, bứt rứt, mất ngủ, gò má đỏ, ra mồ hôi trộm, sốt hâm hấp vào buổi chiều, đại tiện táo, tiểu tiện vàng, chất lưỡi đỏ nhạt… thì không nên dùng nhân sâm. Những người đang bị bệnh chứng, tức là bệnh cấp tính như: cảm sốt phong hàn, cảm mạo phong nhiệt, đau bụng tiêu chảy do trúng thực, do nhiễm thấp nhiệt, sốt xuất huyết, viêm gan cấp, viêm tụy cấp, viêm loét dạ dày – tá tràng, bị giãn phế quản, ho ra máu, người bị cao huyết áp, bị bệnh hệ thống miễn dịch( ban đỏ, mụn nhọt, viêm khớp dạng thấp, da cứng…) thanh niên hay bị xuất tinh sớm, di tinh, phụ nữ đang mang thia, trẻ em dưới 14 tuổi đều không nên dùng nhân sâm.

    Vì nhân sâm làm tăng cường hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp, tăng hưng phấn thần kinh, tăng sức lực, tăng khả năng lao động… cho nên, chỉ sử dụng vào buổi sáng hoặc trưa, không sử dụng buổi tối, để cơ thể được nghỉ ngơi tốt hơn.

    Các loại củ cải và hải sản không nên ăn sau khi uống hoặc ăn nhân sâm. Vì củ cải và hải sản là đại hạ khí, còn nhân sâm là đại bổ khí, hai thứ triệt nhau nếu dùng chung rất nguy hiểm.

    Nhân sâm là vị thuốc quý, thuốc bổ, không thể tùy tiện và ngay cả khi được chỉ định sử dụng của bác sĩ cũng cần phải chú ý cẩn thận, tránh các trường hợp cấm lỵ. Việc lạm dụng nhân sâm không những không đem lại kết quả tốt mà đôi khi còn gây tác hại khôn lường, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng.

    BS. Sầm Thị Thúy Liễu