• KHÔNG PHÓNG TINH( Bất xạ tinh)

    Không phóng tinh hoặc không thể phóng tinh trong âm đạo là một trở ngại về chức năng tình dục của nam giới. Trường hợp này, vẫn có thể duy trì mức cương cứng trong lúc giao hợp nhưng không đạt được cực khoái.

    Ở những bệnh nhân này vẫn không có cảm giác phóng tinh được ra ngoài nhưng sau khi giao ban kết thúc, trong lúc nghỉ ngơi, những chiến binh mới chịu ra ngoài từ từ.

    Ngoài ra, có trường hợp quá trình giao hợp vẫn diễn ra bình thường, nhưng tinh dịch không phóng mạnh, mà chỉ chảy từ từ ra ngoài, gọi là phóng tinh yếu, xạ tinh vô lực, cũng không thuộc phạm vi chứng bệnh giao hợp không phóng tinh.

    Theo một số tác giả thì không xuất tinh còn được biểu hiện dưới dạng có mộng tinh nhưng khi giao hợp thực sự thì lại không thể nào xuất tinh được.

     

     

    Phóng tinh là quá trình phản xạ, chủ yếu chia thành ba bước như sau:

    1. Tiết xuất tinh dịch: tuyến sinh dục, bộ phận cuối của tinh hoàn và ống dẫn tinh là co thắt kéo theo nhau, tuyến niệu đạo và tuyến cầu niệu đạo là nơi xuất tiết đầu tiên, sau đó là bộ phận cuối tinh hoàn co thắt. Tinh trùng theo ống dẫn tinh đi vào khoảng phing2 của ống dẫn tinh, cuối cùng là bóp đẩy của tinh nang đưa tình trùng và cả tinh dịch dồn vào niệu đạo.
    2. Cơ giữ cổ bàng quang co thắt lại để giữ cho tinh dịch không chảy ngược lền bàng quang.
    3. Cùng với sự co thắt cơ của thể xốp cầu và cơ của thể xốp xương hông, đồng thời nhờ vào sự đóng kín của cơ bàng quang ngăn không cho tinh dịch phóng vào bàng quang mà phóng ra từ niệu đạo một cách nhịp nhành.

    Rung động thần kinh dẫn truyền phản xạ phóng tinh bắt đầu từ bộ phận sinh dục, được thần kinh hạ bộ truyền đến vỏ đại não, rồi truyền ra dây thần kinh thông qua vách ngoài phía trước đến trung tâm thần kinh giao cảm ngực và eo lưng rồi truyền đến đốt thần kinh giao cảm ngực 12 – 13.

    Sau đó, rung động do tủy sống gây ra đi qua thần kinh giao cảm của thần kinh dưới da và mạng lưới thần kinh dưới da đến ống dẫn tinh, tuyến tiền liệt, tinh nang và cả cơ giữ trong bàng quang và vùng quanh niệu đạo, tiếp đến là truyền từ thần kinh hạ bộ đến cơ của thể xốp xương hông và thể xốp cầu.

     

     

    Nguyên nhân gây không phóng tinh rất nhiều, nhưng chủ yếu có mấy loại như sau: Tổn thương thần kinh xuất tinh ngược lên bàng quang hoặc ống dẫn tinh bị tắc.

    Theo Đông y, gioa hợp không phóng tinh có liên quan chủ yếu đến 2 tạng thận và can. Thận là cơ quan chủ quản chức năng sinh dục( thận tàng tinh), còn can là quản lý trực tiếp hoạt động của tông câm dương vật). Thận, can suy yếu, khiến cho chức năng đóng, mở của tinh bị rối loạn. Ngoài ra, âm dương khí huyết mất cân bằng, chức năng tạng phủ bị rối loạn, cũng có thể dẫn tới( trên bảo dưới không nghe)

    Để chữa trị có thể căn cứ vào các biểu hiện cụ thể mà chọn dùng một trong số bài thuốc dưới đây:

    Nhiệt kết ở can kinh: dương vật bật khởi bình thường, thời gian giao hợp tương đối dài( thường trên 30 phút), nhưng không thể đạt tới cực khoái, không thể phóng tinh; sau khi giao hợp rất lâu dương vật mới mềm trở lại. Ngoài ra, có thể kèm theo: miệng đắng, họng khô; người bồn chồn, dể nóng giận, mộng tinh, mắt đỏ, tai ù, tiểu ít, nước tiêu vàng, đại tiện bón. Thường gặp ở những người ăn uống nhậu nhẹt, lạm dụng thuốc và chất kích thích.

    Điều trị: Thanh can, giải uất, thông tinh quang.

    Dùng bài Thanh Can Giải Uất Thang:

    . Long đởm thảo, chi tử, mộc thông, đương quy, sài hồ: 10g

    . Hoàng cầm: 12g

    . Trạch tả, xa tiền tử, sinh địa: 15g

    . Ngưu tất, xương bồ: 6g

    . Đại hoàng: 3g

    . Cam thảo: 5g

    Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang; 10 ngày là 1 liệu trình, nghỉ 3 ngày, lại tiếp tục liệu trình khác; tới khi khỏi bệnh.

    Huyết ứ: Không đạt đến khoái cực và không phóng tinh. Thường có cảm giác tức đau ở dương vật, kèm theo ngực sườn đầy tức khó chịu, tính tình trầm mặc, không thích giao tiếp, dể xúc động, dể tức giận, chất lưỡi tím tái hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi mỏng, mạch trầm sáp, thường gặp ở những người sau khi mắc bệnh nặng.

    Điều trị: Hoạt huyết hóa ứ, thông tinh quan.

    Dùng bài Hoạt Huyết Ứ Thang:

    . Sinh địa, ngưu tất, đương quy: 12g

    . Đào nhân, hồng hoa, xuyên khung, xích thược, chỉ xác, sài hồ: 10g

    .Cát cánh: 6g

    . Cam thảo: 3g

    Sắc uống

    Âm hư hỏa vượng: Tình dục dể bị kích thích, dương vật dể bột khởi nhưng có khi không đủ cứng, không phóng tinh trong khi giao hợp. Hay xuất tinh khi ngủ mê, có thể kèm theo các chứng trạng: Phiền táo, tiểu ít, nước tiểu đỏ, đại tiện bí, miệng khô, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác. Thường gặp ở độ tuổi trung niên, sinh hoạt tình dục không tiết chế, tinh huyết suy kiệt.

    Điều trị: Tư âm giáng hỏa, thông tinh quan.

    Dùng bài Tư Âm Giáng Hỏa Ẩm:

    . Quy bản: 12g

    . Bạch thược, Sơn dược, phục thần: 9g

    . Thục địa: 15g

    . Tri mẫu, hoàng bá, đan bì: 6g

    . Sơn thù nhục, ngũ vị tử, viễn chí, xương bồ: 10g

    Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng theo từng liệu trình.

    Thận hư yếu: Tình dục lãnh đạm, dương vật bột khởi không cứng, thời gian giao hợp tương đối ngắn, không phóng tinh mà dương vật tự nhiên mềm nhũn. Kèm theo lưng đau gối mỏi, người mệt mỏi, sợ lạnh, sắc mặt nhợt nhạt, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế hoặc trầm trì, thường gặp ở người cao tuổi, cơ thể lão hóa.

    Điều trị: Bổ thận tráng dương, thông tin quan

    Dùng Bổ Thận Tráng Dương Ẩm:

    . Thục địa, sơn dược: 12g

    . Sơn thù, đỗ trọng, thỏ ty tử: 10g

    . Phụ tử chế: 5g ( sắc trước 1 giờ)

    . Nhục quế, tiên linh tỳ, tiên mao, đảng sâm: 20g

    . Dương khởi trạch, ba kích: 10g

    Sắc uống mỗi ngày 1 thang.


    Lương y: Hoàng Duy Tân